Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

Đại du niên biến hào pháp trong phong thủy

Phương pháp tính toán phương vị bát quái Cửu tinh ký gửi cung phúc đức của chủ nhà dùng để chỉ đạo việc tu sửa và xây dựng nhà. Trình tự cụ thể như sau. Trước hết, căn cứ phép Tam nguyên tính xem mệnh của chủ nhà ký gửi ở cung nào (tên quẻ), tức cung Phúc đức, hoặc còn gọi là Bản cung; sau đó khởi từ bản cung tính Cửu tinh theo trật tự thuận cùng phương vị sở tại.


Phải sử dụng phép biến hào tức là phải biến đổi ba hào trên, giữa, dưới của quẻ ký gửi Bản cung, hào dương thì biến thành âm, hào âm thì biến thành dương, từ đó mà biết được phương vị Cửu tinh. Lấy quẻ Càn làm ví dụ. Nếu mạng của chủ nhà ký gửi ở quẻ Càn, biến hào trên sẽ thành quẻ Đoài, là Sinh khí; biến hào trên và hào giữa, sẽ thanh quẻ Chấn là Ngũ quỉ; biến hào trên và hào dưới sẽ thành quẻ Khảm, là Lục sát; biến hào giữa sẽ thành quẻ Ly, là Tuyệt mệnh. biến hào giữa và hào dưới, sẽ thanh quẻ Cấn, là Thiên ất hoặc còn gọi là Thiên y; biến hào dưới, sẽ thành quẻ Tốn, là Họa hại; biến cả ba hào sẽ thành quẻ Khôn, là Diên niên; cả ba hào đều không biến thì vẫn là quẻ Càn, là Phụ bật, hoặc còn gọi là Phục vị, tức cung Phúc đức, hoặc Bản cung. Trong Cửu tinh, lấy Sinh khí, Diên niên, Thiên Ất, Phụ bật làm 4 cát tinh; con Họa hai, Lục sát, Ngũ quỉ, Tuyệt mệnh làm 4 hung tinh; cũng có thuyết coi Phụ bật là hung tinh.


Do phương vị bát quái đã định, tức là cung Phúc đức sở tại, ta đem Cửu tinh (thực ra chỉ có 8 sao) sắp xếp theo trật tự thuận trên bề mặt 8 vị trí của nhà ở (Tứ chính và Tứ ngung), thì có thể phán cát hung, chỉ đạo việc xây dựng nhà ở. Vì sự biến hào quá rắc rối, cho nên các trước tác Phong thủy nói chung đưa ra cách bố trí thứ tự Cửu tinh bát quái như sau: Càn trạch là Càn (Phúc đức, Phụ bật, Phục vị, từ đây xuống dưới cũng như vậy), Lục sát, Thiên Ất, Ngũ quỉ, Hoạ hại, Tuyệt mệnh, Diên niên, Sinh khí, Khảm trạch là Khảm, Ngũ quỉ, Thiên ất, Sinh khí, Diên niên, Tuyệt mệnh, Họa hại, Lục sát.


Cấn trạch là Càn, Lục sát, tuyệt mệnh, họa hại, Sinh khí, Diên niên, Thiên Ất, Ngũ quỷ. Chấn trạch là Chấn, Diên niên, Sinh khí, Họa hại, Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ. Thiên ất, Lục sát. Tốn trạch là Tốn, Thiên ất, Ngũ quỷ, Lục sát, Hoạ hại, Sinh khí, Tuyệt mệnh, Diên niên, Ly trạch là Ly, Lục sát, Ngũ quỷ, tuyệt mệnh, Diên niên, Hoạ hại, Sinh khí, Thiên ất. Khôn trạch là khôn, Thiên ất, Diên niên, Tuyệt mệnh, Sinh khí, Hoạ hại, Ngủ quỷ, lục sát, Đoài trạch là đoài, Sinh khí, Hoạ hại, Diên niên, Tuyệt mệnh, Lục sát, Ngũ quỷ, Thiên Ất. Đối chiếu trật tự sắp xếp trên, có thể phân biệt phương vị cát hung của 8 phía nhà ở.


 


 



Đại du niên biến hào pháp trong phong thủy

Vấn đề tam trong phong thủy

Tam hại: Tức gió, nước, kiến. Phong thủy âm trạch cho rằng huyệt mộ bị gió thổi, nước xối, kiến đục là 3 cái hại, cho nên phải cẩn thận lựa chọn đất lành, tránh bị tam hại. Nếu chất đất tại huyệt mộ khô vụn, tơi, huyệt mộ không sâu, ắt khó tránh bị kiến đục. Nếu huyệt mộ ở chỗ đất ám ấm thấp, đào xuống quá sâu, thì khó tránh bị nước xói lở. Nếâu xung quanh huyệt mộ sông núi bao bọc không kín, ngay phía trước lõm khuyết, thì khó tránh bị gió thổi. Huyệt bị tam hại thì sinh khí không tụ, xương cốt khó được bảo tồøn nguyên vẹn, nguời chết không yên, người sống gặp họa, đại hung.


Tam cát lục hung: Tam cát nói về huyệt mộ, Lục hung nói về phép mai táng. Tam cát: một là tàng thần hợp sóc, thần đón quỷ tránh; hai là âm dương xung hòa, ngũ thổ tứ bị, ba là mục lực chi xảo (nhìn vừa mắt), công lực chi cụ (công lực có đủ), chu toàn không khuyết, tăng cao ích hạ. Phải chọn đất mai táng sao cho có thể đón cát tránh hung, điều hòa ngũ hành, bốn phía bảo vệ, dùng sức người tu bổ được, là cát. Lục hung: một, âm dương sai biệt; hai, ngày tháng sai lạc; ba, sức nhỏ đòi làm lớn; trông chờ phúc đức lớn; năm, đội trên đạp dưới; sáu, ứng biến quái dị. Nghĩa là khi mai tang, nếu phạm hung sát, chọn sai ngày giờ cuồng vọng hưởng phúc, đối xử không đúng với người trên kẻ dưới, phá hoại đất lành, nhiều lần gặp chuyện kinh dị, đều là hung. Thuật Phong thúy cho rằng huyệt cát mà táng hung thì chẳng khác gì đem thi thể vứt bỏ đi, rất xấu.


 



Vấn đề tam trong phong thủy

Tinh và vấn đề phong thủy

Ngũ quỉ tinh: Phương vị. Thường gọi tắt là Ngũ Quỉ, một trong Cửu tinh. Tương ứng sao Liêm Trinh, ngũ hành thuộc hỏa, bát quái là quẻ Chấn, đại hung (rất xấu). Âm trạch phong thủy dùng sao này chỉ phương vị và hình dạng sơn. Xem thêm mục Liêm Trinh. Dương trạch phong thủy chuyên chỉ phương vị, tùy Bát trạch khác nhau mà di chuyển các phương, như Khảm trạch thì Ngũ Quỉ ở vị trí Cấn, đông bắc, Ly trạch thì Ngũ Quỉ ở vị trí Đoài, chính tây. Tại vị trí có sao Ngũ Quỉ phòng ốc nên thấp bé, nên bố trí chuồng gia súc, nhà vệ sinh. Ngũ Quỉ còn là một trong Xuyên cung cửu tinh. Xem mục tương ứng.


Họa hại tinh: Phương vị. Thường gọi tắt là Họa Hại, một trong Cửu tinh. Tương ứng sao Lộc Tồn, ngũ hành thuộc thổ, bát quái là quẻ Càn. Am trạch phong thủy dùng sao này chỉ phương vị và hình dạng sơn. Xem thêm mục Lộc Tồn. Dương trạch phong thủy chuyên chỉ phương vị, tùy Bát trạch khác nhau mà di chuyển các phương, như Cấn trạch thì Họa Hại ở vị trí Ly, chính nam; Đoài trạch thì Họa hại ở vị trí Khảm, chính bắc. Tại vị trí có sao Họa Hại phòng ốc nên thấp bé, nên bố trí nhà bếp, chuồng gia súc. Họa hại còn là một trong Xuyên cung cửu tinh. Xem mục tương ứng. .


Họa hoạn tinh: Phương vị. Tức sao Họa Hại. Xem mục Họa Hại tinh.


 



Tinh và vấn đề phong thủy

Long và vấn đề phong thủy

Giáng long: Hình thế núi. Chỉ mạch núi ở nơi xuất phát cao đẹp lạ thường, nhưng mỗi lúc đi một thấp dần, giống như con rồng từ trên trời mây đáp xuống biển xanh. Giáng Long có sinh khí cực vượng, an táng sẽ đại cát. Có câu ca rằng “Thế nhược giáng Long, thủy nhiễu vân tòng, tước lộc tam công”(Thế như rồng đáp, từ mây cuốn nước, tước lộc sánh ngang chức tam công) (theo sách Quản thị địa lý chỉ mông).


Chi long: Hình thế núi. Chỉ mạch núi tương đối nhỏ tách ra từ mạch núi chính, thấp và ngắn hơn núi chủ. Sinh khí của Chi Long không vượng, nếu an táng ở đó, con cháu chỉ bình thường mà thôi.


Bình nguyên long: Địa hình. Đồng bằng không có núi, lấy gò đống làm Long. Nếu không có cả gò đống, thì lấy chỗ đất hơi cao làm Long, như câu “Đất cao 1 tấc cũng là núi”. Nhưng nếu dùng sức người đắp đất cao lên thành gò thì không Phải là Long. Hoặc lấy thủy đạo làm Long. Xem mục Thủy Long.


Sát long: Hình thế núi. Chỉ mạch núi có hình thế hung dữ, đá cứng sần sùi, nhọn sắc như lưỡi dao, mũi tên, hiểm ác dị thường; an táng ở đó con cháu sẽ gặp nhiều tai họa, hung hiểm.


Kiếp long: Hình thế núi. Chỉ mạch núi tán loạn, không phân chính phụ, sinh khí không tụ; an táng sẽ đại hung.



Long và vấn đề phong thủy

Sách phong thủy Cung trạch địa hình và Táng thư

Cung trạch địa hình: Tên sách. Không rõ tác giả. 20 quyển, đã thất truyền. Hán thư. Nghệ văn chí xếp vào phái Hình pháp. Sửù ký khảo chứng nói sách này bàn về phương vị phong thủy”. Hán chí viết: “Thuộc loại Hình pháp, bàn về hình thế 9 châu đề xây dựng nhà cửa thành quách”. Đủ biết sách này là trước tác phong thủy sớm nhất chuyên bàn về phong thủy dương trạch.


Táng thư: Tên sách. Còn gọi là Quách Phác táng thư, 1 quyển. Trước đề là do Quách Phác đời Tấn soạn; nhưng sách này xuất hiện lần đầu trong Tống sử. Nghệ văn chí khảo sát nội dung, thì sách này hẳn do người đời Đường viết, mạo danh Quách Phác. Sau khi sách ra đời các nhà phong thủy thêm thắt vào, thành ra hơn 20 thiên. Thái Nguyên Định đời Tống mới san định lại còn 8 thiên;


Ngô Trứng san đinh lại còn 2 thiên nội, ngoại tức bản hiện hành. Sách này nêu các thuyết, như thuyết Sinh khí, thuyết Tam cát lục hung, thuyết Hình thế, thuyết Ngũ bất táng phát triển hoàn thiện thuyết Tứ linh; đồng thời đề xuất định nghĩa Phong thủy, tôn định hệ thống lý luận của Thuật Phong thủy, là tiêu chí hoàn toàn chín muồi của phong thủy âm trạch, trở thành một trước tác lý luận rất quan trọng của học thuyết phong thủy. Đời sau tôn sùng gọi là “Táng kinh”. Trong Táng thư có nhiều chỗ viết hai chữ “Kinh nói”, đủ hiểu trước sách này từng có một bộ Táng kinh, sách nay chi la tiếp tục phát triển học thuyết kia mà thôi.


 



Sách phong thủy Cung trạch địa hình và Táng thư