Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

Hàng hoá bất động sản có đủ điều kiện tham gia giao dịch còn hạn chế cả về số lượng, chủng loại và chất lượng



 


Thông thường, hàng hoá trên th trường bt động sn thường được phân chia thành hai loi: đất đai và vt kiến trúc đã xây dng xong (nhà , công trình…). Tuy nhiên, nước ta, đất đai thuc s hu toàn dân do Nhà nước là đại din ch s hu và thng nht qun lý. Do đó, giao dch bt động sn có yếu t đất đai ch là giao dch QSDĐ.Trong khi đó, nhà và các công trình khác có th thuc s hu tư nhân. Chính vì vy, th trường bt động sn nước ta là th trường giao dch quyn s hu nhà, các công trình khác và giao dch QSDĐ.


Trên th trường bt động sn nước ta, hàng hoá “quyn s dng đất” được hình thành trên cơ s nhà nước giao và cho thuê đối vi các t chc, cá nhân thuc các thành phn kinh tế. Các t chc và cá nhân này có QSDĐ. Giao dch v đất gia các t chc và cá nhân là giao dch v QSDĐ. Thck hin quy định ca Lut đất đai, Nhà nước đã giao đất s dng n định lâu dài cho các t chc, h gia đình, cá nhân; người s dng đất tiến hành đăng ký s dng. Trong giai đon 1996 – 2000, Nhà nước đã giao 9,3 triu ha đất nông nghip cho các h nông dân, các nông trường, tri trm; trên 260 nghìn ha đất chuyên dùng (chiếm 17% tng qu đất chuyên dùng c nước). Lượng đất đai đã được giao hoc hp thc hoá quyn s dng này đã bước đầu to nên lượng hàng hoá nht định cho th trường bt động sn, m ra cơ hi cho nhng người s dng đất đầu tư và s dng đất có hiu qu hơn, đáp ng nhu cu cho đầu tư phát trin .


Tuy nhiên, hin nay còn khong 7% s đối tượng là 2% s din tích đất nông nghip, 65% s đối tượng và 60% din tích đất lâm nghip, 65% s đối tượng và 75% din tích đô th, 52% s đối tượng và 55% din tích đất nông thôn chưa có GCN QSDĐ để đủ điu kin tham gia giao dch trên th trường bt động sn theo quy định ca pháp lut.


Vic chm cp GCN QSDĐ nêu trên là do vic xin cp GCN gp nhiu khó khăn, th tc rườm rà, tn kém. Để được cp GCN QSDĐ, người dân phi làm th tc khai báo, xác nhn t cơ s lên cp huyn hoc tnh, đồng thi, phi np tin s dng đất vi mc np là 20% đến 40% tin s dng đất tính trên giá đất do UBND cp tnh ban hành.


Đối vi hàng hoá bt động sn là vt kiến trúc đã xây dng xong có th chia thành 4 loi là: nhà dùng để cho thuê hoc bán; bt động sn công nghip (nhà xưởng, kho, mt bng sn xut…); văn phòng cho thuê và khách sn; bt động sn thương mi (ca hàng cho thuê, ch, trung tâm thương mi…). K t khi nn kinh tế chuyn sang kinh tế th trường, th trường nhà phát trin rt sôi động, lượng nhà là hàng hóa tăng lên nhanh chóng. Các ngun cung nhà bao gm: Nhà nước thc hin vic bán nhà thuc s hu nhà nước cho người đang thuê, các doanh nghip thuc các thành phn kinh tế được khuyến khích kinh doanh trong lĩnh vc xâyd ng nhà để bán hoc cho thuê; các cá nhân kinh doanh nhà . Tuy nhiên, mc dù có xu hướng tăng lên (hin nay, c nước có 701.409.505m2 nhà, trong đó nhà đô th là 144.492.951m2, nhà nông thôn là 556.916.590m2) nhưng lượng nhà có cht lượng cao còn chiếm t l thp. Trong qu nhà và đất này, có mt b phn được trao đổi, mua bán và chuyn nhượng. Tính đến cui năm 2000, Nhà nước bán nhà cho người đang thuê kèm theo chuyn nhượng QSDĐ vi 3.281.260m2, chiếm 12,8% tng qu nhà thuc s hu Nhà nước.




Hàng hoá bất động sản có đủ điều kiện tham gia giao dịch còn hạn chế cả về số lượng, chủng loại và chất lượng

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Các nhân tố phản ánh sự phát triển của thị trường bất động sản – P2



 


· S đa dng ca các ch th tham gia th trường bt động sn.


Th trường bt động sn càng phát trin thì càng có nhiu và nhiu loi hình ch th tham gia vào th trường bt động sn. Các ch th tham gia vào th trường bt động sn bao gm:


+ Cá nhân:


Các cá nhân s hu bt động sn (s hu đất đai, có quyn s dng đất) tham gia vào th trường vi tư cách là người bán, người cho thuê, người đem bt động sn để góp vn liên doanh… Ngược li, có mt s cá nhân có nhu cu s dng bt động sn vào đời sng sinh hot cá nhân hoc s dng vào mc đích sn xut kinh doanh s tham gia giao dch trên th trường vi tư cách là người mua, người đi thuê


+ Doanh nghip


Các doanh nghip tham gia vào hot động ca th trường bt động sn c v phía cung và cu. Các doanh nghip mi thành lp, m rng hot động sn xut kinh doanh hoc chuyn đổi v trí s có nhu cu v mua, đi thuê hoc nhn vn góp liên doanh bng bt động sn, do đó to nên cu v hàng hoá bt động sn trên th trường. Ngược li, mt s doanh nghip nm gi bt động sn có nhu cu bán, cho thuê (hoc bt động sn đi thuê nhưng mun thuê li), góp vn liên doanh bng bt động sn s tham gia làm tăng cung trên th trường bt động sn. Bên cnh đó, mt s doanh nghip còn tham gia trc tiếp vào quá trình phát trin và to lp hàng hóa trên th trường bt động sn. Các doanh nghip này được t chc theo nhiu loi hình khác nhau: doanh nghip kinh doanh và phát trin nhà, doanh nghip kinh doanh phát trin h tng, doanh nghip phát trin đất… Đây là loi doanh nghip to ra hàng hóa cho th trường bt động sn.


+ Nhà nước.


Nhà nước tham gia vào th trường bt động sn vi tư cách là người qun lý vĩ mô đối vi hot động ca th trường, đồng thi vi tư cách là người tham gia trc tiếp vào hot động ca th trường bt động sn (va là người cung và người cu bt động sn).


Vi tư cách là người qun lý vĩ mô vi hot động ca th trường bt động sn, Nhà nước xây dng h thng pháp lut, to khuôn kh pháp lý cho hot động ca th trường. Đồng thi, Nhà nước cũng thc hin các bin pháp (ch yếu là bin pháp kinh tế, tài chính) thúc đẩy th trường bt động sn phát trin; thc hin qun lý, giám sát, cung cp mt s dch v cho các giao dch trên th trường bt động sn. S tham gia ca Nhà nước mà trc tiếp là Chính ph vào th trường bt động sn được th hin ch yếu trên hai mt: Thông qua công c quy hoch và kế hoch cùng các đòn by để điu tiết vĩ mô th trường, đồng thi, thông qua vic qun lý th trường để có bin pháp điu tiết quan h cung – cu và giá c, bình n th trường. Ngoài ra, Nhà nước còn tham gia giao dch trên th trường bt động sn như các ch th khác: va là người cung, va là người cu bt động sn để thc hin các chc năng qun lý ca Nhà nước ca mình.




Các nhân tố phản ánh sự phát triển của thị trường bất động sản – P2

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Bài học về tác động của các chính sách điều tiết của Nhà nước



 


Các chính sách tài chính – tiền tệ có ảnh hưởng lớn tới thị trường bất


động sản. Nó có thể khiến cho thị trường nóng lên nhanh chóng rồi lại đột ngột suy giảm.


 


Lãi suất liên bang ở Mỹ giảm khiến cho lãi suất vay thế chấp có điều


chỉnh cũng giảm. Người dân ồ ạt mua nhà bằng các khoản vay thế chấp, đẩy giá nhà lên cao. Khi lãi suất tăng, mức lãi suất điều chỉnh của các khoản vay này cũng vì thế mà tăng theo. Thị trường bất động sản sụt giảm, giá nhà rớt xuống nhanh chóng. Những người đi vay thế chấp mua nhà, nhất là những người vay thế chấp dưới chuẩn không có khả năng trả lãi và thanh toán các khoản nợ đến hạn thì phải đối mặt với nguy cơ bị tịch thu nhà. Như vậy, việc


 


 


cắt giảm lãi suất với mục tiêu phục hồi nền kinh tế đang trên đà suy thoái của


Cục dự trữ liên bang Mỹ đã làm xuất hiện bong bóng bất động sản. Và cũng chính những tác động đến lãi suất với mục tiêu kiềm chế lạm phát thông qua việc tăng lãi suất đã làm vỡ quả “bong bóng” đó. Thị trường bất động sản sau một thời gian bùng nổ đã rơi vào khủng hoảng và để lại những hậu quả nặng nề.


 


Ở Việt Nam, kể từ khi thị trường tín dụng bất động sản phát triển thì


ảnh hưởng của các chính sách tài chính – tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước ngày càng rõ rệt. Trong bối cảnh lạm phát đang ở mức cao như hiện nay, việc kiềm chế lạm phát là một điều thiết yếu. Tuy nhiên, cũng cần nhìn từ bài học của Mỹ để thấy rằng, bất kỳ một sự tác động nào của Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ gây ảnh hưởng đến thị trường bất động sản trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Do đó, cần phải tính đến các khả năng có thể xảy ra đối với thị trường khi đưa ra các biện pháp can thiệp.




Bài học về tác động của các chính sách điều tiết của Nhà nước

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Diễn biến bong bóng bất động sản ở Mỹ giai đoạn 2005 - 2008



 


Sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ cùng với nguy cơ lạm phát gia tăng từ


những yếu tố cung cầu đã dẫn tới sự e ngại trong tâm lý một số người dân do người Mỹ có thói quen chi tiêu rất nhiều cho tiêu dùng. Do đó, Cục dự trữ liên bang Mỹ đã quyết định tăng lãi suất trở lại, đến tháng 8/2005, lãi suất liên ngân hàng định hướng của Mỹ đạt mức 3,75% và dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng nên không còn là mức lãi suất hấp dẫn với những người mua nhà. Cơn sốt nhà tạm dừng lại. Bong bóng nhà đất bắt đầu xì hơi, kéo theo đó là sự sụt giảm liên tục ở nhiều nơi trên đất Mỹ.


 


 


Về giá nhà


 


Giá nhà vào những tháng cuối năm 2005 vẫn tăng nhưng với tốc độ


chậm lại. Giá trung bình những căn nhà đang sử dụng vào tháng 12/2005 là 211,000 USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2004. Sang năm 2006, giá vẫn tăng nhưng ở mức thấp hơn và có dấu hiệu chững lại.


 


 


Từ biểu đồ trên, ta có thể thấy thị trường gần như đóng băng vào năm


2006. Giá tăng rất ít trong 3 quý đầu. Mức giá trung bình của các căn nhà đang sử dụng dao động xung quanh mức 221,900 USD, tăng 5% so với năm 2005. Trong đó, giá cao nhất nằm ở khu vực phía Đông với 342,700 USD, tăng 2,1% so với năm 2005 (năm 2005 là 335,300 USD). Tuy nhiên, đến cuối năm 2006, thị trường đã có biểu hiện xuống dốc. Chỉ số S/P500 về giá nhà quốc gia đã giảm 2,89 điểm từ 189,9 quý 3 xuống còn 187,31 vào quý 4 năm 2006. Lần đầu tiên trong vòng 10 năm, giá nhà ở San Diego năm 2006 giảm


1% so với năm 2005. Diễn biến thị trường khá phức tạp, giá tăng và giảm


khác nhau ở một số khu vực. Những khu vực trước đây giá tăng nhiều thì bây giờ cũng giảm nhiều, nơi nào giá tăng ít thì cũng giảm ít.


 


Năm 2007, giá trung bình của những căn nhà đang sử dụng là 219,000


USD, giảm 1,5% so với năm 2006. Đặc biệt, tháng 12 năm 2007, giá nhà chỉ còn 207,000 USD, giảm tới 6% so với cùng kỳ năm 2006. Còn giá của những


căn nhà mới xây là 241,000, giảm 2,2%. [44]


 


Năm 2008, thị trường nhà đất của Mỹ vẫn tiếp tục những đợt sụt giá


liên tiếp trong tháng 1 và tháng 2 với mức giá 199,700 USD và 195,600 USD cho một căn nhà đang sử dụng. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 2008, mức giá


 


này đã tăng lên 200,700 USD. Đây là kết quả của những biện pháp cực mạnh


của FED nhằm cứu thị trường bất động sản đang trên đà suy thoái.


 


Về khối lượng giao dịch


 


Kể từ qúy‎4 năm 2005, thị trường đã có dấu hiệu chững lại. Năm 2006,


trong khi giá nhà, đất tại nhiều nước tăng cao thì thị trường bất động sản ở Mỹ lại khá trầm lắng. Số nhà mới xây trong tháng 2 năm 2006 giảm tới 4% so với tháng 1, từ 882,000 nhà xuống còn 848,000 nhà, đây là mức giảm mạnh


nhất trong 6 năm qua.


 


Số lượng giao dịch trung bình của các căn nhà mới xây là 1,051,000


căn/tháng, giảm 18,08%, của các căn nhà đang sử dụng cũng giảm 8,45%. Đặc biệt, ở khu vực Arizona, một trong những khu vực từng được coi là điểm nóng, số lượng nhà rao bán là trên 50,000, tuy nhiên, trong số đó, gần một nửa vẫn chưa bán được.


Doanh số bán nhà mới tại khu vực Đông bắc Mỹ giảm mạnh nhất với


26,8% và khu vực miền Nam giảm 7%. Số lượng giao dịch nhà đang sử dụng tháng 7 năm 2006 là 6,33 triệu, giảm 4,1 % so với tháng 6/2006 và 11,2% so với tháng 7/2005. Tháng 8/2006, chỉ số xây dựng nhà của Mỹ giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm 2005.


 


Năm 2007 tiếp tục một năm thị trường đi xuống, với số lượng giao dịch


các căn nhà mới xây trong một tháng giảm kỷ lục với 26,17%, từ 1,283,000 xuống còn 776,000 căn, các căn nhà đã xây cũng giảm tới 12,75%, từ 7,076,000 xuống còn 5,652,000.


 


Tháng 12 năm 2007, theo quán tính xuống dốc của thị trường bất động


sản, khối lượng giao dịch và giá nhà đều giảm nhanh. Theo số liệu của NAR,


 


số lượng giao dịch các căn nhà đang sử dụng là 4,910,000 căn, trong đó, cao


nhất là khu vực phía Nam với 1,960,000 căn và thấp nhất là khu vực phía Đông Bắc với 840,000 căn.


 


Năm 2008 lại tiếp tục đánh dấu sự xuống dốc trong thị trường nhà đất ở


Mỹ khi khối lượng giao dịch liên tục giảm xuống. Số lượng giao dịch nhà đang sử dụng tiếp tục giảm trong tháng 1 với 4,890,000 căn. Tuy nhiên, sang tháng 2, số lượng này lại tăng lên ở mức 5,030,000, tháng 3 lại giảm xuống 4,930,000, khối lượng giao dịch vẫn tập trung nhiều nhất ở khu vực phía Nam [54]. Thị trường bất động sản đầu năm 2008 diễn biến thay đổi như vậy là do đang bắt đầu có những phản ứng trước các biện pháp của FED .


 


* Nhận xét: Trong giai đoạn 2001-3/2008, mặc dù thị trường bất động


sản diễn biến khá phức tạp và khác nhau ở một số khu vực nhưng nhìn chung vẫn thể hiện một sự bất ổn định bao trùm lên toàn bộ thị trường. Giá nhà được đẩy lên cao với những cơn sốt điển hình từ năm 2001 – 2005, sau đó, thị trường diễn biến khá trầm lắng và rơi vào khủng hoảng vào thời gian 2005 -


3/2008.




Diễn biến bong bóng bất động sản ở Mỹ giai đoạn 2005 - 2008

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Điều kiện để bất động sản trở thành hàng hóa



 


Theo định nghĩa của kinh tế học cổ điển, để của cải nói chung trở thành


hàng hóa thì xã hội phải có sự phân công lao động đến một mức độ nhất định, đồng thời phải có sự cách biệt tương đối giữa các chủ thể sản xuất. Đối với những hàng hóa đặc biệt thì phải có những điều kiện đặc biệt.


 


BĐS sẽ trở thành hàng hóa và là một hàng hóa đặc biệt nếu nó hội tụ


các điều kiện sau:


 


- BĐS phải là sản phẩm của lao động do con người bỏ công sức khai


phá, giữ gìn.


 


 


- BĐS phải có chủ sở hữu cụ thể, phải được pháp luật cho phép và phải


có đủ điều kiện để giao dịch. Cụ thể như có xác nhận quyền sở hữu (có giấy chứng nhận), không thuộc vùng cấm sử dụng, không nằm trong vùng quy hoạch phải di dời hoặc thay đổi mục đích sử dụng theo kế hoạch của Nhà


nước và không gây ô nhiễm môi trường¼


 


- Thị trường BĐS là thị trường của hoạt động mua bán, trao đổi, cho


thuê, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng BĐS theo các quy luật của thị trường và sự quản lý của Nhà nước.


 


- Thị trường BĐS là tổng hòa các giao dịch về BĐS tại một địa bàn


nhất định, trong một thời gian nhất định.


 


- Thị trường BĐS là tổ chức các quyền có liên quan đến BĐS sao cho


chúng có thể trao đổi lấy giá trị giữa các cá nhân hoặc các chủ thể tham gia thị trường. Các quyền này đôc lập với các tính vật chất của BĐS. Khái niệm này nghiêng về thị trường BĐS như một mô hình, tổ chức để các quyền liên quan đến đất được thực hiện một cách độc lập.


 


Tuy nhiên, các cách hiểu trên đều có một điểm chung khái quát về thị


trường BĐS, đó là tổng hòa các quan hệ giao dịch về BĐS được thực hiện


 


thông qua các quan hệ hàng hóa tiền tệ. Cụ thể hơn, đó là tổng hòa các quan


hệ trao đổi hàng hóa BĐS (các quan hệ giao dịch giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu về BĐS) và thực hiện các quan hệ chuyển dịch về giá trị BĐS. Trên thực tế, nội dung cơ bản của thị trường BĐS và cũng là cách quan niệm phổ biến hiện nay về thị trường BĐS, đó là thị trường nhà đất vì trong thị trường BĐS, thị trường nhà đất được hình thành rõ rệt nhất và vận hành sôi động nhất. Thị trường nhà đất được hiểu là nơi diễn ra các hành vi mua và bán hàng hóa quyền sử dụng đất đai, công trình xây dựng cũng như dịch vụ gắn liền với hàng hóa đó. Quá trình trao đổi quyền sử dụng đất luôn vận động và phát triển làm cho các phương thức giao dịch, trao đổi cũng diễn ra nhiều dạng khác nhau.


 


Trong thị trường bất động sản tồn tại hai hình thức kinh doanh. Đó là


kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản:


 


- Kinh doanh bất động sản: Theo định nghĩa của Luật Kinh doanh BĐS


Việt Nam thì: “Kinh doanh BĐS là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho


thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi.” [7] Các đối tượng thực hiện hoạt động này là các nhà đầu tư phát triển BĐS, các quỹ phát triển BĐS, các nhà đầu cơ BĐS, các đối tác góp vốn trong dự án dưới các hình thức như tiền,


đất, công nghệ¼


 


- Kinh doanh dịch vụ bất động sản: “Kinh doanh dịch vụ BĐS là hoạt


động hỗ trợ kinh doanh BĐS và thị trường BĐS, bao gồm các dịch vụ môi giới BĐS, định giá BĐS, sàn giao dịch BĐS, tư vấn BĐS, đấu giá BĐS, quảng cáo BĐS, quản lý BĐS”. [7] Tham gia vào hoạt động này có các công ty tư vấn đầu tư, các công ty môi giới BĐS, các công ty quản lý BĐS, các đại lý


marketing, các công ty kiểm toán, đấu giá, công ty chứng khoán¼


 




Điều kiện để bất động sản trở thành hàng hóa

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Thực trạng gắn kết giữa thị trường tài chính và thị trường bất động sản – P2



2.3.3.3 Giao dịch thứ cấp bất động sản còn gặp nhiều vướng mắc


Hiện nay, khi có nhu cầu về vốn, các nhà đầu tư thường dùng bất động sản để cầm


cố và thế chấp. Mặc dù việc cầm cố, thế chấp bất động sản đã có nhiều cải tiến, tuy nhiên vẫn còn nhiều vướng mắc về thủ tục, từ thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo, công chứng đến việc xác định giá trị tài sản thế chấp, cầm cố. Do đó, nguồn lực tài chính từ thị trường vốn để đầu tư vào bất động sản còn diễn ra rất chậm chạp làm cho các nhà đầu tư bất động sản mất đi rất nhiều cơ hội đầu tư. Bên cạnh đó, việc phát mãi các tài sản này gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục hành chính, làm cho nguồn cung tín dụng của các trung gian tài chính cho các giao dịch bất động sản bị hạn chế và chậm chạp hơn. Ngoài ra, các bất động sản được cầm cố và thế chấp ở các tổ chức tín dụng không có tính thanh khoản do chưa được chứng khoán hóa. Nếu các tài sản này được chứng khoán hóa thì các tổ chức tín dụng sẽ có


 


- 28 -


 


 


 


một lượng vốn lớn để phục vụ cho các nhà đầu tư, chứ không chờ đến lúc thu hồi được


lượng tín dụng đã cho vay. Điều đó cho thấy, sự luân chuyển bất động sản từ tổ chức này đến tổ chức khác hay từ nhà đầu tư này đến nhà đầu tư khác trên thị trường tài chính còn gặp vướng mắc do thủ tục giao dịch và phát mãi bất động sản, đồng thời công cụ tài chính hỗ trợ chuyển nhượng bất động sản chưa được đa dạng hóa.


2.3.3.4 Nguồn vốn cho giao dịch và đầu tư bất động sản chưa được đáp ứng


Hiện nay, kênh tín dụng chính thức cho giao dịch và đầu tư bất động sản chủ yếu là


từ các tổ chức tín dụng trong nước. Tuy nhiên, kênh tín dụng này còn rất hạn chế, đặc biệt, đối với những dự án đầu tư lớn, các tổ chức tín dụng phải phối hợp mới có khả năng đáp ứng được một phần vốn cho các nhà đầu tư. Theo tính toán sơ bộ, chi phí xây dựng một đô thị như Phú Mỹ Hưng cần khoảng 8.6 triệu USD/ha. Như vậy tổng chi phí để xây dựng khu dân cư 20 ha khang trang khoảng trên 150 triệu USD. Đây là số tiền khá lớn đối với nguồn lực đầu tư của một doanh nghiệp hay một ngân hàng Việt Nam hiện nay.


2.3.3.5 Thời hạn tín dụng của thị trường vốn chưa tương xứng với thời hạn hoạt động


đầu tư kinh doanh bất động sản


Tất cả các nhà đầu tư bất động sản đều ý thức rằng, việc xây dựng chung cư, nhà


cho thuê, nhà trả góp là việc làm rất cần thiết, giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người dân thành phố. Tuy nhiên, khi xây dựng nhà cho thuê, nhà trả góp cho người dân (đặc biệt là người có thu nhập thấp) thì cần từ 20 đến 30 năm mới thu hồi được vốn. Do đó, nhà đầu tư rất cần nguồn tín dụng dài hạn để đầu tư kinh doanh bất động sản. Bên cạnh đó, hiện nay, tín dụng trung – dài hạn trong các tổ chức tín dụng rất hạn chế. Các tổ chức tín dụng phải sử dụng khoảng 30% tín dụng ngắn hạn để cho vay trung – dài hạn cho nền kinh tế. Vì vậy, các nhà đầu tư bất động sản thường rất bị động trong việc vay vốn để đầu tư kinh doanh bất động sản. Vì vậy, các nhà đầu tư bất động sản thường rất bị động trong việc vay vốn để đầu tư kinh doanh bất động sản. Vì vậy, tín dụng của thị trường vốn chưa đáp ứng được điều kiện tín dụng về bất động sản.


Thực trạng này cho thấy, vai trò của thị trường vốn đối với thị trường bất động sản còn mờ nhạt, chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn, về tính thanh khoản cho việc đầu tư vào bất động sản của các nhà đầu tư.


 




Thực trạng gắn kết giữa thị trường tài chính và thị trường bất động sản – P2

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Các cấp độ phát triển của thị trường bất động sản



1.1.2.1 Cấp độ sơ khởi


Đây là giai đoạn mà tất cả mọi người đều có thể tạo lập được nhà của mình. Giai đoạn này


chỉ cần có một mảnh đất là có thể hình thành nên một cái nhà và được coi là bất động sản. Trong cấp độ này, các chính sách về đất đai, các chủ đất và các cơ quan quản lý đất đai đóng vai trò quyết định.


1.1.2.2 Cấp độ tập trung hóa


Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng. Trong giai đoạn này, do hạn chế về đất


đai, hạn chế về năng lực xây dựng không phải ai cũng có thể hình thành và phát triển một tòa nhà, một bất động sản lớn, một dự án bất động sản. Trong cấp độ này, các chính sách về xây dựng và các doanh nghiệp, cơ quan quản lý xây dựng đóng vai trò quyết định.


1.1.2.3 Cấp độ tiền tệ hóa


Đó là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng. Lúc này, sự bùng nổ của các doanh nghiệp


phát triển bất động sản, do hạn chế về các điều kiện bán bất động sản, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiền để phát triển bất động sản cho đến khi được bán ra trên thị trường. Trong cấp độ này, các ngân hàng đóng vai trò quyết định trong việc tham gia vào dự án này hoặc dự án khác. Các chính sách ngân hàng, các ngân hàng và các cơ quan quản lý về ngân hàng đóng vai trò quyết định.


1.1.2.4 Cấp độ tài chính hóa


Khi quy mô của thị trường bất động sản tăng cao và thị trường phát triển mạnh, do


những hạn chế về nguồn vốn dài hạn tài trợ cho thị trường bất động sản, các ngân hàng hoặc không thể tiếp tục cho vay đối với bất động sản hoặc sẽ đối mặt với các rủi ro. Lúc này, các ngân hàng phải tài chính hóa các khoản cho vay, các khoản thế chấp cũng như các khoản tài trợ cho thị trường nhằm huy động đa dạng hóa các nguồn vốn. Trong cấp độ này, các thể chế tài chính. Các chính sách tài chính, các tổ chức tài chính và các cơ quan quản lý tài chính là những chủ thể có vai trò quyết định.


Có thể thấy rằng, không nhất thiết mỗi một nền kinh tế, mỗi một thịt trường bất động sản đều tuần tự trải qua từng nấc, từng cung bậc như trên. Cũng không nhất thiết các cấp độ phát triển thị trường phải có giai đoạn như nhau về thời gian. Cũng không nhất thiết, các cấp độ phát triển của thị trường phải là kết thúc giai đoạn này rồi mới chuyển sang giai đoạn khác. Các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đã phát triển qua cả 4 cấp độ từ rất lâu. Chẳng hạn như Úc và New Zealand, các tài sản bất động sản đã được chứng khoán hóa với tỷ lệ rất cao. Các nước có nền kinh tế chuyển đổi đều áp dụng chủ yếu là biện pháp “mạnh tay”, tức là áp dụng đồng loạt tất cả các cơ chế, chính sách theo chuẩn của các nền kinh tế thị trường nên hiện nay thị trường bất động sản cũng đã ở cấp độ tài


 


 


 


 


chính hóa. Trung Quốc cũng đang chuẩn bị chuyển qua giai đoạn tài chính hóa thị trường


bất động sản.


Trong mỗi cấp độ phát triển thị trường bất động sản, quá trình vận động của thị trường đều có chu kỳ dao động như nhiều thị trường khác. Chu kỳ dao động của thị trường bất động sản gồm có 4 giai đoạn: phồn vinh (sôi động), suy thoái (có dấu hiệu chững lại), tiêu điều (đóng băng) và phục hồi. Chẳng hạn như thị trường bất động sản nước Mỹ trong khoảng một thế kỷ (1870-1973) trải qua 6 chu kỳ dao động, bình quân mỗi chu kỳ khoảng 18 năm; thị trường bất động sản nước Nhật từ năm 1956 đến nay đã trải qua 4 chu kỳ, mỗi chu kỳ khoảng 10 năm; thị truờng bất động sản Hồng Kông từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay đã có 8 chu kỳ giao động, trong đó đáng chú ý có chu kỳ cực ngắn (1992-1994), tăng trưởng phi mã trong hai năm 1992,1993 rồi suy sụp rất nhanh trong năm 1994.


 




Các cấp độ phát triển của thị trường bất động sản